Khi tham gia tố tụng trong vụ kiện dân sự, dù là ở địa vị nguyên đơn hay bị đơn thì đương sự cũng cần phải chuẩn bị chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp (đối với nguyên đơn), hay chuẩn bị chứng cứ để chứng minh cho việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp (đối với bị đơn…). Vậy, chứng cứ là gì và những tài liệu, dữ liệu, sự kiện, tình tiết nào được xem là chứng cứ?
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, có hiệu lực từ ngày 01/7/2015 quy định về chứng cứ như sau:
Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Toà án trong quá trình tham gia tố tụng hoặc do Toà án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định và được Toà án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.
Nguồn chứng cứ được quy định như sau:
Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử;
Vật chứng;
Lời khai của đương sự;
Lời khai của người làm chứng;
Kết luận giám định;
Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;
Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản;
Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập;
Văn bản công chứng, chứng thực;
Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.
Việc xác định chứng cứ được quy định như sau:
1/. Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận;
2/. Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó;
3/. Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử;
4/. Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc;
5/. Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định hoặc khai bằng lời tại phiên toà;
6/. Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;
7/. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;
8/. Kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá tài sản, thẩm định giá được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;
9/. Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;
10/. Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;
11/. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định được xác định là chứng cứ theo điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy định.
Việc giao nộp tài liệu, chứng cứ được thực hiện như sau:
Trong quá trình Toà án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Toà án. Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ. Nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Toà án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Toà án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Toà án đã thu thập theo quy định để giải quyết vụ việc dân sự.
Việc đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Toà án phải được lập thành biên bản. Trong biên bản phải ghi rõ tên gọi, hình thức, nội dung, đặc điểm của tài liệu, chứng cứ; số bản, số trang của chứng cứ và thời gian nhận; chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp, chữ ký của người nhận và dấu của Toà án. Biên bản phải lập thành hai bản, một bản lưu vào hồ sơ vụ việc dân sự và một bản giao cho đương sự nộp chứng cứ.
Đương sự giao nộp cho Toà án tài liệu, chứng cứ bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch sang tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.
Thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự, đương sự mới cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Toà án đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ đó.
Đối với tài liệu, chứng cứ mà trước đó Toà án không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên toà sơ thẩm, phiên họp giải quyết việc dân sự hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo của việc giải quyết vụ việc dân sự.
Khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Toà án thì họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác.
Việc hiểu biết và nắm rõ các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự nói chung cũng như các quy định của pháp luật về chứng cứ nói riêng khi tham gia tố tụng sẽ rất hữu ích cho các đương sự trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Đặc biệt là khi các bên đang có trong tay những chứng cứ rất có giá trị đối với việc giải quyết vụ án, nếu không hiểu biết pháp luật và không biết cách vận dụng chứng cứ theo cách có lợi nhất cho mình thì sẽ bỏ qua cơ hội đắt giá giúp xoay chuyển tình thế khi Toà án giải quyết vụ án.
Nếu quý vị còn nhiều điều chưa rõ hoặc gặp khó khăn trong quá trình tham gia tố tụng, cần sự trợ giúp pháp lý của luật sư giỏi tư vấn pháp luật dân sự, pháp luật tố tụng dân sự. Xin hãy liên hệ với Văn phòng luật sư Thiên Định để được trợ giúp, với đội ngũ luật sư giỏi giàu kinh nghiệm, đã từng kinh qua những vị trí trọng yếu trong cơ quan tiến hành tố tụng, có quá trình công tác nhiều năm trong các cơ quan thuộc khối nội chính như Toà án, Thi hành án…cùng với bản lĩnh nghề nghiệp thông qua việc bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho thân chủ trong các vụ án lớn, phức tạp tin rằng sẽ là tổ chức hành nghề luật sư đáng tin cậy để quý vị trao gửi trọn niềm tin, tìm cho mình chỗ dựa pháp lý vững chắc khi hữu sự.

Luật sư Trần Đăng Minh.